Tạo tài khoản
 
Xem các văn bản cùng chuyên ngành


 

Phân biệt hành vi sàm sỡ và hành vi phạm tội, không phạm tội dâm ô

 

Dư luận gần đây đang bức xúc đối với nhiều vụ việc sàm sỡ, dâm ô xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước, nhưng rất cần phân biệt giữ hành vi sàm sỡ với hành vi dâm ô trước khi dư luận “kết án” một ai đó. Nhiều ý kiến của các luật sư, chuyên gia pháp lý cho rằng cần mở rộng phạm vi giải thích, hướng dẫn đối với tội dâm ô- Điều 146 BLHS 2018 hiện nay so với hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC trước đây. Chúng tôi cho rằng đợi hướng dẫn mới của cơ quan có thẩm quyền chắc sẽ còn rất dài, pháp luật hình sự đã quy định có quy định, tình hình của loại tội phạm này đang rất phức tạp, gây bức xúc trong xã hội, nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần tham khảo các hướng dẫn trước đây, thực tiễn xét xử, các ý kiến bình luận của các nhà khoa học và đặc biệt là quy định của BLHS hiện hành để khẩn trương điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các hành vi phạm tội dâm ô.

Luattrongtay.vn trân trọng giới thiệu bài viết sau đây về hành vi sàm sỡ và hành vi dâm ô:

 

1. Phân biệt giữa hành vi sàm sỡ và hành vi dâm ô

Hiện nay pháp luật không có quy định cụ thể về khái niệm sàm sỡ. Theo từ điển Tiếng Việt thì sàm sỡ tức là suồng sã đến mức gần như thô bỉ trong quan hệ giao tiếp giữa nam và nữ. Điểm a khoản 1 Điều 5 nghị định 167/2013/NĐ-CP, quy định xử phạt hành chính đối với những người có hành vi sàm sỡ như sau:

 

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”

 

Theo quy định nêu trên thì hành vi sàm sỡ không bao gồm hành vi có tính chất kích thích nhục dục, dục vọng – hành vi dâm ô. Các hành vi “cưỡng hôn”, “nựng”,  “đùa”  “trêu trọc ” hay “quý mến” với người dưới 16 tuổi có mục đích thỏa mãn dục vọng thì có thể phạm tội dâm ô – Điều 146 BLHS 2015.

 

Có lẽ cuốn từ điển Tiếng Việt nêu trên có lẽ cũng đã không theo kịp sự phát triển của loại hành vi sàm sỡ, dâm ô trong xã hội. Pháp luật quy định hành vi “Sàm sỡ” là đối với “người khác” và dâm ô “đối với người dưới 16 tuổi”. Nghĩa là, sàm sỡ hay dâm ô không chỉ giữa nam và nữ mà có thể giữa nam và nam hoặc giữa nữ và nữ.
 

2. Hành vi phạm tội hoặc không phạm tội dâm ô – Điều 146 BLHS 2015

 

* “Người” được sử dụng trong nội dung văn bản này có thể là nam, nữ, người Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch.

- Xem tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS 2015  cách xác định tuổi của người phạm tội tại đây.

1. Người từ đủ 18 tuổi trở lên, không đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015), đã thực hiện hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác, thì phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - Điều 146 BLHS 2015

Hành vi dâm ô là hành động dùng tay, chân hoặc bất kỳ bộ phận cơ thể nào khác (đặc biệt là bộ phận sinh dục) của một người tiếp xúc (sờ, nắm, hôn hít, chà xát...) với bất kỳ bộ phận cơ thể của người khác cùng giới tính hoặc khác giới tính (đặc biệt là bộ phận sinh dục), hoặc ép buộc, dụ dỗ, lừa phỉnh người khác thực hiện hành vi tương tự, nhằm mục đích thỏa mãn, khêu gợi, kích thích nhục dục, tính dục, nhu cầu tình dục của người thực hiện hành vi dâm ô mà không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác (Tham khảo thêm điểm d khoản 1 mục III phần B thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV).

Mục đích thực hiện hành vi được phản ánh trong lời khai thừa nhận của người thực hiện hành vi, lời khai của những người liên quan và các lời khai này phù hợp với chứng cứ, tình tiết khác trong vụ án. Mục đích thực hiện hành vi cũng được phản ánh trong mối quan hệ giữa người thực hiện hành vi với nạn nhân, thông qua diễn biến hành vi, động cơ thúc đẩy thực hiện hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi v.v…

Người thực hiện hành vi nêu trên phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của họ có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là người dưới 16 tuổi. (Xem phần 2.1 mục 2 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP).

Người thực hiện hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong tình trạng bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (xem quy định tại Điều 13 BLHS 2015).

 

2. Người từ đủ 18 tuổi trở lên và không đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015), đã thực hiện hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này, thì người đó phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với vai trò người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong vụ án đồng phạm (xem Điều 17 BLHS 2015). 

 

3. Người chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này thì không phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. 

 

4. Người đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015) thực hiện hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì không phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, vì người đó không nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. 

 

5. Người thực hiện hành vi dâm ô nêu tại mục 1 văn bản này đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên thì không phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

 

 

6. Người thực hiện hành vi dâm ô nêu tại mục 1 văn bản này nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác thì không phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi mà có thể phạm tội khác: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS 2015); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS 2015); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 BLHS 2015).

 *Trong văn bản này không nêu phạm tội chưa đạt vì theo quan điểm của chúng tội tội phạm này không có trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 BLHS. Và tội phạm này không có quy định về chuẩn bị phạm tội nên cũng không có trường hợp chuẩn bị phạm tội theo quy định tại Điều 14 BLHS.


 

 

 

Phân biệt hành vi sàm sỡ với hành vi phạm tội dâm ô đối với trẻ em (dưới 16 tuổi)?