Tạo tài khoản
 


 

Xác định hành vi phạm tội hoặc không phạm tội giết người - Điều 123 BLHS 2015

 

Ca sỹ Châu Việt Cường, trong lúc phê ma túy, đã nhét tỏi vào mồm chị Hạnh nhằm mục đích trừ tà ma, chứ không phải nhằm mục đích giết chị Hạnh, nhưng hậu quả thực tế là chị Hạnh đã bị chết. Vậy tại sao ca sỹ Châu Việt Cường lại bị truy tố về tội giết người? xin hãy tham khảo mục 1 dưới đây để trả lời câu hỏi này.

 

* “Người” được sử dụng trong nội dung văn bản này có thể là nam, nữ, người Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch.

- Xem tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 và khoản 3 Điều 14 BLHS 2015 và cách xác định tuổi của người phạm tội tại đây.

 

 1. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, không đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015), đã nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm đến tính mạng người khác, thấy trước hậu quả chết người xảy ra hoặc có thể xảy ra, nhưng đã lựa chọn thực hiện với mong muốn hậu quả chết người xẩy ra hoặc không mong muốn hậu quả chết người xẩy ra mà có mục đích khác nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra và hậu quả chết người đã xẩy ra trên thực tế thì người đó phạm tội giết người.

Kể cả trường hợp gây nguy hiểm đến tính mạng nhầm người (như muốn giết B nhưng tưởng A là B nên giết nhầm A hoặc dùng súng bắn A nhưng đã bắn trúng B) thì người thực hiện hành vi nêu trên vẫn phạm tội này.

Hành vi nguy hiểm đến tính mạng người khác là hành động hoặc không hành động, được đánh giá thông qua việc sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội nguy hiểm (súng, dao, chất độc, gậy gộc, chân tay…), cách thức thực hiện hành vi phạm tội (đốt nhà giết người, trói lại vứt xuống sông, đẩy vào đầu xe ô tô đang chạy…), cường độ, mức độ tấn công (đâm một nhát hay nhiều nhát, liều lượng thuốc độc …), vị trí tấn công (dùng gậy đánh vào đầu, gáy hay chỉ đánh vào chân tay…). 

Mục đích thực hiện hành vi được phản ánh trong lời khai thừa nhận của người thực hiện hành vi và lời khai của những người liên quan và các lời khai này phù hợp với chứng cứ, tình tiết khác trong vụ án. Mục đích thực hiện hành vi cũng được phản ánh trong mối quan hệ giữa người thực hiện hành vi với nạn nhân, thông qua diễn biến hành vi, động cơ thúc đẩy thực hiện hành vi như lợi ích vật chất, tinh thần, trốn tránh trách nhiệm, mâu thuẫn v.v…

 

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên và không đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015) đã thực hiện hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này, thì người đó phạm tội giết người với vai trò tổ chức, xúi giục, giúp sức trong vụ án đồng phạm (xem Điều 17 BLHS 2015).

 

3. Trường hợp người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này đã thực hiện đầy đủ hành vi với mong muốn hậu quả chết người xẩy ra, nhưng hậu quả chết người đã không xẩy ra vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người thực hiện hành vi (nạn nhân có sức khỏe tốt hoặc được cấp cứu kịp thời,… nên không chết), thì người đó phạm tội giết người chưa đạt (xem khái niệm phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 BLHS 2015).

 

4. Trường hợp người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này đang hoặc đã chuẩn bị công cụ, phương tiện (dao, súng, thuốc độc…) để thực hiện hành vi giết người nhưng chưa thực hiện được hành vi giết người đã bị phát hiện bắt giữ, thì người đó phạm tội chuẩn bị giết người quy định tại khoản 3 Điều 123 BLHS 2015.

 

5. Trường hợp người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này đã tự nguyện chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp sau đây thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người:

+ Tự nguyện chấm dứt việc chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội khi đang chuẩn bị;

+ Đã chuẩn bị xong công cụ, phương tiện phạm tội nhưng tự nguyện chấm dứt, không thực hiện tiếp hành vi giết người;

+ Đã bắt đầu thực hiện hành vi giết người nhưng tự nguyện chấm dứt không thực hiện đến cùng mặc dù có điều kiện để thực hiện tiếp (ví dụ: mới chém sượt cánh tay đã tự nguyện dừng lại không chém tiếp,…).

Tuy nhiên, người đó có thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đối với hành vi thực tế đã thực hiện trước khi chấm dứt, ví dụ người đó đã gây thương tích cho nạn nhân thì có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS 2015.

 

 6. Người tự mình thực hiện hành vi gây ra cái chết của chính mình (tự sát) thì không phạm tội giết người.

 

7. Người chưa đủ 14 tuổi đã thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này thì không phạm tội giết người.

 

8. Người đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015) thì không phạm tội giết người vì người đó không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng người khác, không có khả năng thấy trước hậu quả chết người xảy ra hoặc có thể xảy ra.

 

9. Trường hợp người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này gây hậu quả chết người do chống trả lại một cách cần thiết trong giới hạn phòng vệ chính đáng (khoản 1 Điều 22 BLHS 2015) hoặc do dùng vũ lực một cách cần thiết trong khi bắt giữ người phạm tội (khoản 1 Điều 24 BLHS 2015) thì không phạm tội giết người.

 

10. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi trở lên, không đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (Điều 21 BLHS 2015) thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này trong một số trường hợp sau đây, thì không phạm tội giết người mà phạm tội khác, cụ thể:

Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS 2015), Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS 2015), Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126 BLHS 2015) v.v..

 

11. Trường hợp người thực hiện hành vi nêu tại mục 1 văn bản này không mong muốn hậu quả chết người xẩy ra mà có mục đích khác nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra và hậu quả chết người đã không xẩy ra trên thực tế mà nạn nhân chỉ bị thương tích, tổn hại sức khỏe, thì người đó không phạm tội giết người mà có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS 2015 (trường hợp này hậu quả đến đâu người thực hiện hành vi chịu trách nhiệm hình sự đến đó).

 

12. Người vô ý thực hiện hành vi gây hậu quả chết người thì không phạm tội giết người.

Tức là người đó do cẩu thả nên trước hoặc trong khi thực hiện hành vi không nhận thức được hành vi do mình thực hiện có thể gây ra hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó, hoặc mặc dù người đó nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng đã quá tự tin cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được thì không phạm tội giết người mà có thể phạm tội khác, ví dụ: Tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS 2015), Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 BLHS 2015) v.v..

 

13. Trường hợp mục đích phạm tội không phải là giết người mà để thực hiện một tội phạm khác như tội cướp tài sản, tội hiếp dâm,… nhưng trong khi thực hiện hành vi cướp tài sản hoặc hiếp dâm,... đã vô ý gây hậu quả chết người thì người thực hiện hành vi không phạm tội giết người mà phạm tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015), tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS 2015),... với tình tiết định khung hình phạt làm chết người.

 

14. Trường hợp mục đích phạm tội là giết người nhằm thực hiện một số tội phạm khác như giết người để cướp tài sản,... thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội là tội giết người và tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015) v.v..